IQ và EQ là gì?

IQ (Intelligence Quotient) – CHỈ SỐ THÔNG MINH TRÍ TUỆ

Người ta thường nói người này thông minh hơn, người kia ngốc nghếch hơn, thực ra đây chỉ là cách nói cảm tính.Quốc tế đã đưa ra một tiêu chí khoa học thông dụng để đo độ cao thấp của trí tuệ, đó là chỉ số IQ.

Vậy chỉ số thông minh IQ là gì? IQ là con số biểu thị trí tuệ một cách tương đối, bằng cách lấy số tuổi trí tuệ chia cho số tuổi sinh học (hay tuổi thực tế), rồi lấy thương số nhân với 100. Định nghĩa này giúp ta xác định một cách tương đối tốt khả năng trí tuệ của trẻ dưới 16 tuổi, vì trên 16 tuổi chỉ số IQ sẽ hầu như không phát triển nữa.

Đây là một khái niệm hoàn toàn mới của tâm lý học hiện đại, được phát hiện khi quan sát quá trình lớn lên của trẻ để giúp xác định tuổi trí tuệ của trẻ.

Lần đầu tiên, chỉ số IQ được sử dụng ở Pháp vào đầu thế kỷ 20. Sau đó, bài kiểm tra trắc nghiệm IQ được hoàn chỉnh dần với các câu hỏi về suy luận logic, so sánh, số học, trí nhớ, kiến thức tổng quát, tính toán, xếp hình logic và được sử dụng rất phổ biến tại Châu Âu trong những năm 1950.

Chỉ số IQ được coi là trung bình khi từ 90 – 100, từ 80 – 90 là kém thông minh, từ 70 – 80 là rất kém, học chậm, dưới 70 là chậm phát triển trí tuệ, từ 100 – 110 là khá thông minh, 110 – 120 là rất thông minh, 120 – 130 là xuất sắc, 130 – 140 là rất xuất sắc và trên 140 là cực kỳ thông minh. Nói chung, nam và nữ có IQ trung bình như nhau. Nữ thường đạt chỉ số cao hơn về trí nhớ và khả năng diễn đạt. Nam lại giỏi hơn về tính toán và ước lượng không gian 3 chiều.

Việc xác định chỉ số IQ là nhằm giúp chẩn đoán và điều trị những bệnh gây hạn chế khả năng học tập, xác định năng lực trí tuệ cũng như tuyển chọn nhân viên. Tuy nhiên, cũng không nên dựa vào những con số về IQ để đánh giá khả năng một con người, bởi bài kiểm tra IQ không có tính chất kiểm tra toàn diện và việc luyện thi IQ có thể làm tăng chỉ số IQ dù trí thông minh vẫn không thay đổi.

IQ vẫn được xem như là yếu tố di truyền, nhưng vẫn có thể được cải thiện và nâng cao dưới tác động của môi trường. Khi môi trường không tốt, thì dù có tài năng bẩm sinh (IQ cao) cũng không thể bộc lộ và phát huy hết tiềm năng được. Trong thế kỷ 20, người ta phát hiện chỉ số IQ trung bình trên toàn cầu tăng khoảng 3 điểm trong mỗi thập niên nhờ sự cải thiện về dinh dưỡng, giáo dục và gia đình có ít con hơn nên nuôi nấng con tốt hơn. Thêm vào đó, do xã hội phức tạp hơn nên đòi hỏi con người phải có khả năng thích nghi cao hơn. Ở đa số thần đồng, IQ dần giảm đi so với lúc được phát hiện nếu không được bồi dưỡng đúng cách. Ngược lại, một cá nhân cố gắng hoàn chỉnh sự học hỏi bằng các giáo trình đặc biệt kết hợp bồi bổ dinh dưỡng có thể gia tăng IQ thêm tới 30 điểm.

Trước đây, người ta đã đề cao quá mức chỉ số IQ, xem nó như cốt lõi của nhân cách, là thước đo giá trị của cá nhân và là yếu tố duy nhất để thành công. Có con với chỉ số thông minh IQ cao luôn là niềm ao ước của rất nhiều bậc cha mẹ và nhiều phụ huynh tin rằng trẻ có IQ cao sẽ thành đạt trong học vấn và cả trong tương lai.

Tuy nhiên, những năm gần đây, các nghiên cứu cho thấy những người có IQ cao chưa chắc đã thực hiện công việc xuất sắc hơn, IQ cao không có nghĩa là làm ra nhiều tiền hơn và chỉ số IQ không phải là yếu tố quan trọng nhất dẫn đến thành công trong cuộc sống.

Thành công không chịu ảnh hưởng của trí thông minh IQ mà nó liên quan đến việc cá nhân sử dụng trí thông minh IQ của mình như thế nào để mang lại kết quả.

Một điều thú vị là chỉ số IQ cao nhất toàn cầu không phải ở Châu Âu, Châu Mỹ mà lại ở Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Việt nam, Thái Lan… với IQ trung bình là 105. Đứng thứ hai là các nước Châu Âu, Châu Mỹ, Canada, Australia, New Zealand với IQ trung bình là 100. Nam Á, Bắc Phi và phần lớn các nước Châu Mỹ La tinh có IQ trung bình 85. Châu Phi nói chung và các nước vùng biển Caribe có IQ trung bình dưới 70.

EQ (Emotional Intelligence Quotient) – CHỈ SỐ THÔNG MINH CẢM XÚC

Nếu như trước đây, IQ đã từng là tiêu chuẩn đầy quyền lực để xác định thành công của một người thì ngày nay quyền uy của IQ đang bị EQ làm lung lay. Nếu như IQ phản ánh năng lực trí tuệ và thành tích chuyên môn của một người thì EQ thể hiện năng lực điều hòa và làm chủ cảm xúc, nắm bắt và phán đoán tình cảm của người khác, năng lực tiếp nhận những khó khăn tạm thời và mức độ lạc quan trước cuộc sống.

Năm 1995, nhà tâm lý học Daniel Goleman đã giới thiệu một khái niệm mới: chỉ số cảm xúc EQ, còn gọi là “sự thông minh của tâm hồn” hay “thông minh trong cảm xúc” – một yếu tố cơ bản dẫn tới thành công. Sự phát hiện này giải thích tại sao một số người có IQ không cao nhưng có sự nhạy cảm cao lại thành công hơn những người có IQ cao.

Từ ý nghĩa đó, EQ chính là sức mạnh tình cảm, một loại sức mạnh của tính cách. Nó bao gồm năng lực về các mặt như khả năng tự nhận thức (hiểu rõ chính bản thân mình cũng như thấu hiểu người khác), tầm nhìn, khả năng tự quản lý được cảm xúc của mình, khả năng khích lệ và khả năng giao tiếp. Trong đó, năng lực tự nhận thức chính là EQ cơ bản nhất quyết định độ EQ cao thấp của một người và rất quan trọng trong giao tiếp cũng như trong cuộc sống.

Người có EQ cao, luôn có những phán đoán chính xác đối với cảm xúc của chính mình và của người khác, trên cơ sở đó mà điều chỉnh hợp lý thái độ, hành vi và ngôn ngữ của mình. Nhờ khả năng thấu cảm, người có EQ cao thường dễ hòa nhập, dễ thích nghi, luôn tìm được sự hòa hợp trong tập thể, biết cư xử và dễ dàng nhận được sự hợp tác hơn là “những thiên tài đơn độc”. EQ cao còn đặc biệt quan trọng đối với người lãnh đạo, bởi tinh túy của người lãnh đạo nằm ở chỗ khiến người khác làm việc tốt hơn. Đối với trẻ em, EQ cao sẽ giúp trẻ phát triển tốt kỹ năng giao tiếp, diễn đạt, hòa đồng với bạn bè, thích nghi nhanh với cuộc sống. Điều này sẽ tạo nền tảng tốt về mặt nhân cách giúp trẻ phát triển tốt các kỹ năng sống cần thiết để thành công vững chắc trong tương lai.

Càng ngày, người ta càng cho rằng EQ quan trọng hơn IQ. Đó cũng là lý do tại sao: “Với IQ, người ta tuyển dụng bạn, nhưng với EQ, người ta đề bạt bạn”. Những người thành đạt không phải là người có IQ cao nhất mà có EQ cao nhất.

Thống kê ở Anh và Mỹ cho thấy chỉ có 25% thành công trong cuộc đời là nhờ vào chỉ số IQ, còn 75% còn lại là phụ thuộc vào chỉ số EQ của bạn.

EQ một phần là bẩm sinh nhưng đa phần do giáo dục, rèn luyện mà có được. Việc giáo dục tình cảm, bồi dưỡng cảm xúc cho trẻ vì vậy phải được thực hiện ngay từ khi chúng còn nhỏ, khi hệ thần kinh chưa trưởng thành và có nhiều cơ hội tiếp nhận những cảm xúc mới. Những trẻ có EQ thấp thường sống thu mình, thiếu bạn bè, khó hòa nhập, hay thích gây hấn, không thích chia sẻ cái mình có với người khác… nên dễ bị bạn trong lớp tẩy chay, học hành sút kém. Trong tương lai, người có EQ thấp cũng khó tạo ra những mối quan hệ tốt để phát triển sự nghiệp. EQ thấp hay sự thiếu cảm xúc, thiếu sự thấu cảm còn có thể dẫn tới những hành vi phạm tội, hành hạ người khác hay thậm chí giết người.

MỐI QUAN HỆ GIỮA IQ & EQ

IQ là tập hợp những gì ta học được từ trường lớp, sách vở. Còn EQ được tạo nên qua trường đời, qua những thử thách thực tế trong cuộc sống và cách ứng xử để vượt qua chúng. Tiêu chí đặc trưng để đo IQ là tư duy logic, còn EQ là tư duy nhân văn (còn được gọi là văn hóa người). IQ chứng minh bằng số liệu và thực tế, còn EQ thuyết phục người khác bằng lý luận và cảm xúc. IQ giúp tạo nên kỹ năng học và khám phá, còn EQ giúp hình thành kỹ năng sống và trãi nghiệm. Mục đích của giáo dục là phát triển song song cả 2 chỉ số này. Có những ngưới được thiên phú cả 2 nhưng không ít người lại thiếu cả 2.

IQ và EQ đều nằm trong hệ thống nhân cách và có tính độc lập với nhau. EQ không đối lập với IQ mà bổ sung cho nhau, EQ cao sẽ tạo điều kiện cho IQ phát triển.

LÀM CÁCH NÀO ĐỂ TĂNG EQ CHO TRẺ?

EQ có thể thay đổi và phụ thuộc nhiều vào sự giáo dục và rèn luyện. Như vậy với nỗ lực và ý thức, các bậc cha mẹ có thể giúp trẻ để nâng chỉ số EQ của trẻ cao hơn.

Trước hết, tình cảm yêu thương của những người xung quanh mà đặc biệt là của cha mẹ, thông qua những cử chỉ và lời nói, rất cần cho sự phát triển cảm xúc của trẻ. Với trẻ nhỏ, hãy dành nhiều thời gian chơi với trẻ hay kể những câu chuyện phù hợp với lứa tuổi và tính cách của trẻ. Tạo điều kiện cho trẻ thường xuyên tiếp xúc, giao lưu với môi trường, bạn bè bên ngoài, đừng “nhốt” trẻ ở nhà chơi một mình vì có thể dẫn tới căn bệnh tự kỷ. Cần hình thành cho trẻ thói quen biết quan tâm, chia sẻ với những người thân trong gia đình, bạn bè, người lớn tuổi và cả những hoàn cảnh bất hạnh xung quanh… Không nên chiều theo những đòi hỏi vô lý của trẻ để tập cho trẻ biết cách hạn chế và điều khiển cảm xúc của mình. Giải thích cho trẻ hiểu hậu quả việc làm của mình (như dành đồ chơi của bạn, đố kỵ, hiềm khích…) đối với cảm xúc của người khác. Trẻ càng lớn, hãy giúp trẻ biết chia sẻ nụ cười, biết phân biệt đúng sai, không phải lúc nào cũng thích gì được nấy, biết tự đánh giá mặt mạnh, mặt yếu của mình và chế ngự được bản thân, độc lập, tự tin, luôn lạc quan, suy nghĩ tích cực để vượt qua những tình huống khó khăn trong cuộc sống.

Điều quan trọng là để dạy con về trí tuệ cảm xúc, cha mẹ không thể là người “vô cảm” vì trẻ sẽ học hỏi trước hết thông qua lối sống và cách cư xử của cha mẹ. Những thói quen tốt này sẽ dần hình thành cho trẻ một nhân cách đẹp và một tâm hồn nhạy cảm, giúp trẻ sống cân bằng hơn, hạnh phúc hơn và chắc chắn sẽ vươn tới thành công, cả trong sự nghiệp lẫn trong cuộc sống tương lai!

(Trích sách Cẩm Nang Dinh Dưỡng Gia Đình)