THỦ TỤC UỶ QUYỀN CÓ CẦN CÔNG CHỨNG? CÓ CẦN CÓ MẶT 2 BÊN?

 

1) Uỷ quyền phải bằng văn bản hay hợp đồng

Căn cứ Khoản 1, Điều 18 Nghị định 04/2013/NĐ-CP:

1. Việc ủy quyền có thù lao, có nghĩa vụ bồi thường của bên được ủy quyền hoặc để chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản phải được lập thành hợp đồng ủy quyền. Khi công chứng các hợp đồng ủy quyền liên quan đến bất động sản, công chứng viên có trách nhiệm kiểm tra kỹ hồ sơ, giải thích rõ quyền và nghĩa vụ của các bên và hậu quả pháp lý của việc ủy quyền đó cho các bên tham gia. – b…

>>> Như vậy, Trường hợp là ủy quyền để chuyển quyền sở hữu nhà đất dù có thù lao hay không cũng bắt buộc phải lập thành Hợp đồng ủy quyền.

2) Cơ quan thực hiện công chứng, chứng thực

Căn cứ Luật công chứng năm 2012 thì thẩm quyền công chứng Hợp đồng ủy quyền là tổ chức hành nghề công chứng. Khoản 1, Điều 18 Nghị định 04/2013/NĐ-CP:

2. Trong trường hợp bên ủy quyền và bên được ủy quyền không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng thì bên ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi cư trú của họ công chứng hợp đồng ủy quyền; bên được ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng tiếp vào bản gốc hợp đồng ủy quyền này, hoàn tất thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền.

3) Ai cần đến tổ chức công chứng

Nếu không thể gặp người nhận ủy quyền để ký Hợp đồng ủy quyền người uỷ quyền đến tổ chức hành nghề công chứng nơi họ đang cư trú để lập Hợp đồng ủy quyền công chứng 2 nơi, tại tổ chức hành nghề công chứng nơi họ  ký ủy quyền.

Sau đó  gửi Hợp đồng ủy quyền vào nơi người được uỷ quyền hoàn tất thủ tục nhận ủy quyền tại tổ chức hành nghề công chứng nơi người đó cư trú.

Như vậy, sau khi Bên nhận ủy quyền hoàn tất thủ tục công chứng thì Hợp đồng ủy quyền có hiệu lực pháp luật. Và người được uỷ quyền tiến hành thủ tục bán căn hộ thông qua Hợp đồng ủy quyền theo quy định của pháp luật.

——————————–

TÌNH HUỐNG

“Thân nhân của tôi ở Việt Nam muốn ủy quyền cho tôi giải quyết công việc tại công ty của họ ở CHLB Nga. Tôi chưa về được Việt Nam thì họ có thể làm ủy quyền vắng mặt không, và có thể bằng cả 2 thứ tiếng Việt, Nga không?”

Trả lời:

Theo Nghị định 75/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 8/12/2000 về công chứng, chứng thực thì việc ủy quyền mà bên được ủy quyền có thù lao, có nghĩa vụ bồi thường hoặc ủy quyền để chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản phải được lập thành hợp đồng ủy quyền. Khi công chứng hoặc chứng thực hợp đồng phải có mặt cả 2 bên để cùng ký vào hợp đồng trước mặt công chứng viên, cán bộ tư pháp. Nếu việc ủy quyền không thuộc các trường hợp trên thì không cần phải lập hợp đồng, mà có thể lập thành giấy ủy quyền và chỉ cần người ủy quyền ký là đủ. Do vậy thân nhân của bạn ở Việt Nam có thể ủy quyền cho bạn mà không cần sự có mặt của bạn ở Việt Nam.

Tuy nhiên ủy quyền phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực của UBND cấp có thẩm quyền. Trong giấy ủy quyền phải ghi rõ tên, tuổi, địa chỉ, số chứng minh thư nhân dân (hoặc số hộ chiếu) của người được ủy quyền, nội dung và phạm vi ủy quyền, thời hạn ủy quyền…

Giấy ủy quyền được viết bằng tiếng Việt, và có thể yêu cầu phòng công chứng dịch sang tiếng Nga và công chứng vào bản dịch đó. Bản dịch được công chứng có giá trị pháp lý tương đương bản tiếng Việt.