Thực trạng tuyển sinh và “tâm lý giáo dục” Việt Nam hiện nay (*)

1/ Thực trạng giáo dục thời gian qua ở Việt Nam là gì?

– Là tâm lý đám đông;
– Là trọng tâm xoay quanh người thầy;
– Là thừa thầy thiếu thợ;
– Là coi trọng thành tích, lấy số lượng làm tiêu chí;
– Là chạy đua bằng cấp, bằng mọi giá phải được cử đi học;
– Là Học giả Bằng thật; là Học thật Bằng giả; và là Học giả Bằng cũng giả!

2/ Giả giả Thật thật, vậy biết đâu là Giả đâu là Thật?

Giả là không phải người trong danh sách học, mà là người khác học thuê, thi hộ; Thật là chính tên người trong bằng cấp nhưng không phải là kiến thức là học vị của họ.

Giả còn là người gian manh, là bằng giả, in chui; Thật còn là chức vị thật, bổng lộc thật…

Tóm lại một bộ phận không nhỏ người Việt Nam có kiến thức giả nhưng lại có vị thế và tiền tài rất là thật!

3/ “Tâm lý giáo dục” là gì? (*)

Là tổng thể những thực trạng trên; là xu hướng mà một bộ phận không nhỏ những chủ thể, người có trách nhiệm và quyền lợi liên quan đến việc học, việc định hướng, quản lý giáo dục lèo lái theo cảm tính, theo lợi ích cá nhân; đặt lợi nhuận kinh tế cao hơn giá trị con người; là nguyên nhân khiến cho nền giáo dục nước nhà trì trệ nặng lý thuyết kém trung thực để có thể đem lại thành tựu nhân văn và ứng dụng nào nổi bật đáng tự hào.

4/ Việt Nam đã đáp ứng đủ trường lớp cho giáo dục chưa?

Có thể nói là chưa, ngoài trình độ chuyên môn và phương pháp giảng dạy còn hạn chế của giáo viên, giảng viên (người đứng lớp tại các bậc cao đẳng trở lên) thì chắc chắn cơ sở hạ tầng giáo dục và sự thiếu thốn trường lớp cũng khá nhiều.

5/ Nếu nói thiếu thì tại sao báo chí có thông tin nhiều nơi có tình trạng trường lớp bỏ hoang, thấy thừa trò thiếu?

Do chủ trương xây dựng bất cập và không đồng bộ nên có nhiều nơi nhất là vùng sâu, vùng nông thôn vẫn xảy ra tình trạng trường lớp xây dựng đó nhưng lại không có học sinh học; có lớp học chỉ có hơn chục học sinh; có trường số giáo viên lại xấp sỉ bằng số học sinh.

6/ Vậy thì do dân số địa phương ít hay do học trò không muốn học tại địa phương mình nên xảy ra tình trạng trường lớp bỏ hoang, thấy thừa trò thiếu?

Dĩ nhiên, tuỳ vùng miền mà có dân số ít nhiều khác nhau. Ở đây phải nói đến sự yếu kém của các cấp chính quyền khi xây dựng trường lớp nhiều dẫn đến việc bỏ hoang hay thiếu vắng học sinh. Giải pháp là nếu nơi nào số lượng học sinh ít thì xây dựng trường lớp ít lại, đồng thời đảm bảo số giáo viên tương ứng với số học sinh; Hoặc có thể xây gộp 1 trường có nhiều cấp học; hoặc coi một số lớp chỉ là phân hiệu của một trường mà thôi.

7/ Thực trạng chính ở đây là việc thiếu trường lớp?

Thực trạng này xảy ra ở những đô thị và thành phố lớn; và hầu như phổ biến ở khắp mọi tỉnh. Vì hiện nay Việt Nam đang đẩy mạnh đô thị hoá, số lượng thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, trực thuộc trung ương được quốc hội phê duyệt ngày càng nhiều. Trong lúc hạ tầng còn chưa hoàn thiện thì tên gọi thị xã, thành phố đã được công nhận. Thực tế là nhiều nơi đã được tính toán và cấp kinh phí xây dựng hợp với tình hình địa phương nhưng vẫn xảy ra tình trạng quá tải học sinh trong 1 lớp học (trên 35 học sinh/lớp).  Dưới đây là những nguyên nhân khách quan và chủ quan chính dẫn tới sự trớ trêu đó:

– Phòng giáo dục hoặc giám hiệu nhà trường “có vấn đề” khi nghiệm thu và bảo dưỡng trường lớp;
– Chính quyền địa phương không ủng hộ xây dựng trường “có tính chất cạnh tranh”;
– Phụ huynh tìm mọi cách chạy chọt cho con vào trường điểm trái tuyến;
– Phụ huynh chê trường lớp, thầy cô ở địa phương mình cư trú;
– Học sinh chuộng bằng cấp, ưa “mác” đại học danh tiếng.

8/ Dẫn chứng cụ thể để quy trách nhiệm của những nguyên nhân trên thế nào?

– Vấn đề thứ nhất: Nếu một tư nhân là nhà đầu tư cũng là nhà quản lý xây 1 ngôi trường có giá trị 10 tỷ đồng; ngôi trường đó có thể “bình yên” trong 50 năm. Trường hợp đó nếu giao cho 1 tổ chức nhà nước hoặc cá nhân không đồng thời là nhà đầu tư và nhà quản lý thì có thể ngôi trường đó đội giá hơn 20 tỷ nhưng chỉ có thể sử dụng trong vòng 20 năm thôi. Đó là thực tế của xã hội VN hiện nay.
– Vấn đề thứ hai: Một địa phương mà một ngôi trường cấp ba, có vị trí trọng điểm hình thành từ sự đóng góp của mạnh thường quân ngoài nhà nước, của tổ chức tôn giáo nhưng cuối cùng chịu sự chi phối và lũng đoạn của một cá nhân có gốc gác cách mạng vẫn tồn tại theo kiểu quá tải 1 cách độc tôn không phải chịu sức ép của những trường tư thục khác thì rõ ràng phải có vấn đề gì ở đây(?)
– Vấn đề thứ ba: Quy định trường tiểu học chỉ đón nhận học sinh địa bàn cùng tuyến vậy mà không dễ nhận thấy nhiều em học sinh lạ quắc lạ quơ là bạn cùng lớp với con em mình; trong khi đó cậu bạn nhà kế bên phải sức bức sang bang mới xin được vào trường nằm ngay khu phố mình.
– Vấn đề thứ tư: Cùng là món hàng như nhau có khi giá thành lại cao hơn lại cách xa nữa, tại sao khách hàng không mua tại nơi gần nhà mình mà lại mua ở nơi xa hơn, mắc hơn? Câu trả lời số đông là tại nơi được nhièu người mua có chất lượng tốt hơn, người bán lại thân thiện hơn. Giáo dục cũng là 1 loại sản phẩm, thầy cô là người bán hàng; vấn đề đặt ra là giáo viên hãy làm sao cho phụ huynh và con em luôn đánh giá cao để không phải so đo nên học thầy cô nào.
– Vấn đề thứ năm: Chủ thể thì đơn giản, nhưng phạm vi điều chỉnh lại phức tạp hơn. Học sinh có thể tự nộp đơn xét tuyển vào ngành nghề trường đại học theo ý mình nhưng động cơ lại chịu chi phối bởi nhiều yếu tố khác: Cha mẹ không để con cái tự lập tự quyết định đam mê sở thích; Nhà trường thì thiếu hoặc yếu lĩnh vực hướng nghiệp cho học sinh; các trường nghề hoặc cao đẳng đại học lại tuyển sinh càng nhiều càng tốt, sinh con xong lại bỏ chợ. Nhà tuyển dụng thì ưu tiên bằng cấp, ngoại hình rồi mới đến kỹ năng chuyên môn… Đó là nguyên nhân dù so với tỷ lệ trường lớp trên thế giới thì VN không phải là nhiều nhưng trớ trêu là ở chổ có trường sinh viên chen chúc không đủ chỗ, có trường lại thưa thớt vắng như Chùa Bà Đanh.

truong-thuydong

Một Trường PTCS ở huyện Thạnh Hoá, Long An với quy mô gần 20 phòng học nhưng chỉ có trên dưới 200 học sinh…

9/ Các giải pháp về trường lớp thì thế nào?

Trả lời câu hỏi có nên xây dựng thêm trường lớp mới không: Đối với cấp phổ thông (mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông) thì nên rà soát lại tổng thể; nơi nào thực sự cấp bách và cần thiết thì mới cấp phép xây mới. Nơi nào đã xây rồi và đang dôi dư giáo viên thì nên quy hoạch lại để dung hoà số lượng  và bổ sung với các trường lớp còn thiếu giáo viên.

Giải quyết tình trạng hoạt động của các nhà giữ trẻ tư nhân, các cơ sở mầm non tư nhân nhỏ lẻ thành lập tự phát và không đủ chuẩn: Sáp nhập hợp nhất lại để đủ điều kiên về hạ tầng; tuyển chọn giáo viên đủ kỹ năng bằng cấp và thực sự yêu trẻ.

Ban giám hiệu nhà trường phải xem trường lớp là nhà, là gia đình của mình để mà bảo dưỡng tốt cơ sở hạ tầng; quản lý giáo dục hiệu quả học sinh.

10/ Giải pháp nào cho việc học và tuyển sinh sắp tới?

– Bộ giáo dục không tổ chức thi mà cấp chứng nhận tốt nghiệp phổ thông trung học cho học sinh hoàn thành giáo dục phổ thông theo tiêu chí hạnh kiểm từ trung bình; học lực đủ điểm qua các kì kiểm tra và thi các môn học cuối năm học. Chấm dứt tình trang học nhầm lớp. Học sinh nào ở lại lớp quá 2 lần thì không cho học lên PTTH, theo đó sẽ chuyển qua học nghề thích hợp.

– Mọi học sinh tốt nghiệp PTTH đều có quyền học lên CĐ-ĐH và trên ĐH (không nhất thiết tất cả phải có việc làm sau khi được cấp bằng). Trường CĐ-ĐH tuyển sinh phải đảm bảo việc làm cho số SV ra trường có nguyện vọng kiếm việc thích hợp với ngành nghề đào tạo. Đây là chủ trương mở rộng đầu vào.

– Bộ giáo dục chỉ tổ chức thi ĐH ở những trường trọng điểm đầu vào có giới hạn hoặc để chọn ra sinh viên xuất sắc trong việc trao học bổng.

– Chỉ quy định Sinh viên, nghiên cúu sinh được cấp bằng sau khi hội đủ tín chỉ và vượt qua kì thi sát hoạch, hoặc bảo vệ luận án cuối khoá; và thời lượng đi học tối thiểu 25% tổng số buổi giảng dạy tại trường. Đây là xu hướng siết chặt đầu ra.
___________________________________________

(*) “Thuật ngữ” được giải thích theo quan điểm riêng của tác giả.