1. Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL)
a/ Thẩm quyền tập thể: một tập thể như là quốc hội, chính phủ, hội đồng thẩm phán, hội đồng nhân dân… thì ban hành VBQPPL ở dạng Luật, nghị quyết, thông tư liên tịch…
Ví dụ:
– Hiến pháp, Bộ luật, Luật của quốc hội
– Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
– Nghị định của Chính phủ.-
– Nghị quyết liên tịch giữa ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội
– Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng nhân dân,
– Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân.
b/ Thẩm quyền cá nhân: một cá nhân như là Chủ tịch nước, bộ trưởng, chủ tịch xã… thì ban hành VBVPPL ở dạng Lệnh, thông tư, quyết định, chỉ thị.
* Ví dụ:
– Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.
– Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Tổng Kiểm toán Nhà nước.
– Thông tư của Chánh án tòa án nhân dân tối cao
– Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
– Thông tư liên tịch giữa Chánh án tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
2. Phân biệt Luật và Bộ Luật
a/ Luật là gì?
Luật là các nguyên tắc nhà nước quy định, là những quy chuẩn đạo đức tôn giáo hoặc những khuôn phép tập quán địa phương dựa vào ý chí của giai cấp thống trị hoặc quyền lợi của các tầng lớp xã hội cho phép hoặc cấm đoán những hành vi liên quan đến các mối quan hệ giữa các cá nhân, giữa cá nhân với tổ chức, giữa các tổ chức với nhau, cũng như việc trừng phạt những cá nhân, tổ chức vi phạm hoặc làm trái các quy định mà luật đặt ra.
* VD: Luật hôn nhân gia đình
b/ Bộ luật là gì?
Bộ luật là một dạng luật, có một số khác biệt sau:
– Phạm vi điều chỉnh bao quát và rộng hơn so với 1 luật nào đó
– Nội dung bao hàm và liên quan nhiều lĩnh vực trong xã hội
– Được dẫn chiếu và điều chỉnh các vấn đề mà nội dung của nó không được quy định ở những luật (chuyên ngành) khác.
– Điều chỉnh các dẫn chiếu điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia kí kết
* VD1: Các tranh chấp trong mua bán thương mại không được hai bên thoả thuận (Điều chỉnh mặc nhiên trong luật thương mại). Toà án sẽ viện dẫn Bộ luật dân sự để giải quyết tranh chấp;
* VD2: Tranh chấp chia tài sản khi nam nữ sống với nhau như vợ chồng (nhưng không đăng kí kết hôn). Toà án sẽ dựa vào vấn đề tranh chấp được quy định trong Bộ luật dân sự
* VD3: Trách nhiệm pháp lý (trách nhiệm pháp lý hành chính, TNPL dân sự, TNPL kỷ luật…) khi vi phạm pháp luật nếu không bị chế tài trong các Nghị định hoặc Thông tư nào thì sẽ được dẫn chiếu điều chỉnh trong Bộ luật hình sự.
c/ Có mấy Bộ Luật ở Việt Nam?
Ở VN có các Bộ luật sau:
– Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2003;
– Bộ Luật Dân sự 2005;
– Bộ Luật Hàng hải 2005;
– Bộ Luật Hình sự 1999 – Sửa đổi bổ sung 2009;
– Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự 2004-SĐBS 2011;
– Bộ Luật Lao động 2012
3. Phân biệt Bộ luật dân sự với Tố tụng dân sự; phân biệt Bộ luật hình sự với tố tụng hình sự
a/ Dân sự và Tố tụng dân sự:
– Bộ Luật dân sự quy định tính pháp lý, các chuẩn mực ứng xử của cá nhân, tổ chức; quy định quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động gọi chung là quan hệ dân sự.
Bộ luật dân sự cũng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước; bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự.
– Bộ luật tố tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự; trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự tại Tòa án…
>>> Dân sự là những việc quan hệ hàng ngày trong đời sống xã hội; Tố tụng dân sự là trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự.
b/ Hình sự và Tố tụng hình sự
– Bộ luật hình sự quy định các tội danh mà chủ thể vi phạm sẽ chịu các hình phạt để răn đe, giáo dục, cảm hoá, cải tạo người phạm tội trở thành người lương thiện; qua đó, bồi dưỡng cho mọi công dân tinh thần, ý thức làm chủ xã hội, ý thức tuân thủ pháp luật, chủ động tham gia phòng ngừa vàchống tội phạm.
Bộ luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần vào việc bảo vệ lợi ích công dân, tổ chức; duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế; bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
– Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, của các cơ quan, tổ chức và công dân; hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
>>> Hình sự là lĩnh vực liên quan đến tội phạm và biện pháp xử phạt với tội phạm tương ứng; Tố tụng hình sự là trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
