Những mánh khoé của nhân viên kế toán

Những “thủ thuật gian xảo” sau đây của người làm công tác kế toán là nguyên nhân khiến cho Doanh nghiệp (DN) bị thâm thụt lợi nhuận hoặc người lao động (NLĐ) bị rút ruột thu nhập:

1. Nhân viên kế toán (NVKT) sửa đổi ngày công hoặc giờ làm thêm (tăng ca) của người lao động:

Nhân viên kế toán nếu có ý đồ xấu sẽ làm 2 bảng số liệu: 1 là bảng lương chính xác đưa cho người lao động  tham khảo, bảng này tạo lòng tin cho NLĐ ; bảng thứ hai là bảng để quyết toán tiền lương gửi cho người sử dụng lao động (NSDLĐ – chủ doanh nghiệp, giám đốc hoặc người quản lý), bảng này kê thêm ngày công, giờ làm thêm của NLĐ. Để rồi sau đó NVKT sẽ hưởng phần chênh lệch này.

– VD: Thực tế NLĐ chỉ làm 24 ngày công + 18h tăng ca trong tháng, NVKT khi giao bảng lương tham khảo cho NLĐ thì thống kê chính xác; nhưng trong bảng dữ liệu quyết toán thì ngày công lại kê thành 26 ngày + 20h tăng ca; khi đó NVKT này sẽ tham ô 2 ngày công  và 2h tăng ca kê sai đó.

>>> Cách này dễ bị phát hiện nếu NSDLĐ kiểm tra kỹ máy móc và so sánh giấy tờ lưu trữ của NVKT

2. Nhân viên kế toán thông đồng với người lao động để cùng kiếm chác

Theo đó NVKT thông đồng với 1 số NLĐ thân cận, họ báo những NLĐ đó sẽ kê thêm vài con số trong bảng lương. VD: thực tế NLĐ chỉ làm 20 ngày nhưng trong bảng lương sẽ là 24 ngày. Sau đó phần chênh lệch 4 ngày đó khi NLĐ nhận lương sẽ “cưa đôi” với NVKT

>>> Cách này dễ làm, dễ qua mặt NSDLĐ và “an toàn hơn”. Sự cố chỉ xảy ra nếu NVKT và NLĐ xích mích hoặc bất đồng trong tỷ lệ ăn chia.

3. Nhân viên kế toán làm khó hoặc vòi vĩnh người lao động khi làm các chế độ bảo hiểm xã hội (BHXH)

Khi NLĐ nghỉ vì ốm đau, có giấy bác sĩ; khi NLĐ hưởng chế độ tai nạn lao động hoặc chế độ thai sản. Để hưởng các chế độ từ cơ quan BHXH thì NLĐ phải tham gia BHXH và nộp đầy đủ các giấy tờ cần thiết. Nếu Nhân viên nhân sự hoặc nhân viên kế toán BHXH có tinh thần trách nhiệm làm việc có tâm thì không nói gì; gặp trường hợp nhân viên đó mang tư tưởng hách dịch vòi vĩnh thì NLĐ có nước chịu thiệt, NLĐ sẽ bị hạch sách nặng nhẹ, bị làm khó khi muốn nhận tiền BHXH. Để được mau chóng NLĐ sẽ quỵ luỵ hoặc chịu bôi trơn chút ít cho NV đó.

Tệ hơn nữa, có những NV làm công tác bảo hiểm cho NLĐ trong các DN đã gian dối trong việc chi trả tiền nhận được từ cơ quan BHXH, theo đó họ sẽ cắt xén 1 phần hoặc 1 khoản nào đó mà người được hưởng.

>>> Khi nhận tiền từ các chế độ BHXH, người lao động cần đối chiếu các chứng từ cơ quan BHXH gửi cho NV làm công tác BHXH để xem có chính xác theo quy định của pháp luật hay không. Để hiểu được vấn đề NLĐ nên tham khảo công đoàn cơ sở hoặc tìm hiểu các luật liên quan đến LĐ và BHXH.

4. Nhân viên kế toán không minh bạch trong việc kê khai thuế 

Có các khoản thuế mà NVKT thường phải kê khai và làm việc với cơ quan thuế. Đó là thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) thuế môi trường (MT), thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế thu nhập cá nhân (TNCN)…

Sau đây là những lỗi vi phạm pháp luật về thuế của DN mà một trong những người trực tiếp sai phạm là NVKT:

– Mua hàng không rõ nguồn gốc, không có hoá đơn chứng từ;

– Xuất hàng, giao hàng, bán hàng không ghi hoá đơn chứng từ;

– Ghi sai hoặc giả mạo hoá đơn chứng từ (VD: bán 1 tấn hàng mà chỉ ghi chứng từ có 300kg);

– Kê khai nộp thuế hoặc hoàn thuế không đúng sự thật (VD: mua bán hoá đơn giả; khai khống hoặc khai thêm giá trị hoá đơn GTGT)

>>> Việc không ghi hoá đơn chứng từ mỗi khi xuất hàng, bán hàng là 1 vi phạm pháp luật khá phổ biến khiến cho nhà nước thất thu ngân sách rất lớn.

5.  Nhân viên kế toán qua mặt chủ doanh nghiệp thâm lạm thuế thu nhập doanh nghiệp

Theo từng thời kỳ, từng ngành nghề mà nhà nước có chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp trong vài lĩnh vực, ví dụ như ưu đãi về thuế cho doanh nghiệp nào có nhiều lao động người khuyết tật, nhiều lao động nữ; hoặc sản xuất kinh doanh ở những địa bàn khó khăn, ở những ngành nghề trọng điểm như khoa học nông nghiệp, sản xuất phần mềm tin học, sản xuất những phụ liệu Việt Nam còn yếu kém… Theo đó nhà nước miễn thuế, giảm thuế hoặc hỗ trợ chi phí đào tạo, chi phí đầu tư công nghệ, chi phí quảng cáo…

Nắm được những ưu đãi đó, thay vì nhân viên kế toán hoạch toán làm lợi cho DN thì không ít NVKT lợi dụng việc quản trị hạn chế hoặc lỏng lẽo của chủ DN mà thâm lạm doanh thu của DN.

VD: Đáng lý khi kê khai thuế TNDN thì NVKT phải báo cáo cho chủ DN có phần khấu trừ các chi phí quảng cáo, chi phí đầu tư công nghệ… đằng này NVKT không báo cáo (nhưng trong phần quyết toán thuế cho cơ quan thuế thì NVKT vẫn có kê thêm những chi phí đấy) thế là NVKT đã ăn chặn phần chênh lệch DN không khấu trừ và phần được khấu trừ. Vì chúng ta đều biếtlợi nhuận của DN là doanh thu trừ đi các khoản chi hợp lý theo quy định của pháp luật về thuế; mặt khác nếu có lợi nhuận thì mới nộp thuế TNDN.

>>> Để giảm thiểu rủi ro tài chính và kiểm soát kế toán chặt chẽ, DN cần có 1 trợ lý chuyên về quản trị DN, am hiểu các lĩnh vực về kế toán tài chính, qua đó chủ doanh nghiệp luôn được tham mưu kiến thức để có sách lược quản trị DN 1 cách hiệu quả

6. Nhân viên kế toán ăn chặn tiền nộp thuế thu nhập cá nhân

Người lao động chỉ nộp thuế TNCN khi tổng các khoản thu nhập trừ đi tiền chênh lệch khi tăng ca, tiền phụ cấp thuê nhà, phụ cấp độc hại; tiền đóng các khoản bảo hiểm theo quy định pháp luật (BHXH gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, bảo hiểm tai nạn (tuỳ ngành nghề)) lớn hơn 9 triệu đồng.

Trường hợp nếu NLĐ có người phụ thuộc phải nuôi (VD: mẹ già trên 55 tuổi, con chưa thành niên…) thì trừ tiếp mỗi người phụ thuộc là 3,6 triệu đồng; số thực lãnh còn lại trên 9 triệu đồng thì mới chịu thuế TNCN.

Lợi dụng quy định này mà nhiều NVKT đã trừ tiền NLĐ ở những ai có tổng  thu nhập trên 9 triệu đồng và kê khai khống việc nộp thuế TNCN của NLĐ (thực chất là không phải nộp nếu đã trừ các khoản theo quy định mà NLĐ có thực lãnh (lương Net) không trên 9 triệu đồng). NVKT đã “qua mặt” NLĐ bằng cách báo cho NLĐ phải nộp thế TNCN nếu tổng lương của họ (lương Gross) trên 9 triệu đồng(!)

Mặt khác có những NVKT không hiểu chuyên môn yếu hay cố tình ăn chặn tiền thuế TNCN của người lao động khi họ tính toán mức thuế TNCN không chính xác (VD: khoản thu nhập trên 5 triệu – 10 triệu (đã giảm trừ  gia cảnh + người phụ thuộc) thì thuế suất là 10%, có NVKT lại tính tất cả thu nhập của những người từ trên 14 triệu đến 19 triệu là 10%. Chẳng hạn chị NTB tổng thu nhập tháng là 17 triệu, NVKT tính thuế TNCN cho cô NTB là 10%*17 triệu hoặc 10%* 8 triệu (số 8 triệu  có từ 17 triệu – 9 triệu); như vậy NVKT đó trừ đi 1,7 triệu hoặc 8 trăm ngàn tiền thuế TNCN của cô NTB(!) Tính như vậy là NCKT gian xảo vì 2 cách tính trên đều sai! Nếu NVKT nói đã tính như vậy và nộp tiền cho cơ quan thuế rồi, thì nhân viên này có biết rằng cơ quan thuế họ vừa nhận tiền vừa cười cho… cái công ty cô này bởi tự dưng “cúng tiền” không không cho họ(?)

>>> Để không bị ăn chặn khoản thu nhập không đáng mất của mình, người lao động cần tham khảo các quy định về thuế thu nhập cá nhân để có lí lẽ xác đáng phản biện lại việc làm sai trái của nhân viên kế toán (VD: NLĐ nên vặn lại: tôi bị nộp thuế TNCN vậy giấy chứng nhận Mã số thuế tôi đâu?) Phần nhân viên kế toán phải luôn trau giồi chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp để tránh vi phạm pháp luật. Nếu vì lí do nào đó không rõ hoặc không cập nhật được kiến thức chuyên môn thì nên cầu thị và nhờ sự tư vấn của cơ quan thuế hoặc chuyên gia pháp lý.

Trên đây là những cảnh báo trong công tác kế toán tài chính doanh nghiệp, một phần cảnh tỉnh những nhân viên kế toán có chuyên môn nghiệp vụ hạn chế hoặc đạo đức nghề nghiệp xuống cấp; một mặt khuyến cáo chủ DN và người lao động luôn tăng cường giám sát và cập nhật kiến thức liên quan đến sự phát triển của DN và quyền lợi của NLĐ.