PHÂN BIỆT TRỢ CẤP THÔI VIỆC VÀ MẤT VIỆC LÀM

1) THÔI VIỆC:  sự việc xảy ra thường là do yếu tố chủ quan:

>>> “…Điều 42. (Luật lao động 2007)

1- Khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ đủ 12 tháng trở lên, người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương, nếu có.”

>>> Hoặc người LĐ chủ động nghỉ việc;  hoặc người SDLĐ và người LĐ thỏa thuận

Tiền trợ cấp thôi việc = Tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc x Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc x 1/2

Trong đó:

– Tổng thời gian làm việc tính trợ cấp thôi việc (tính theo năm) được xác định theo khoản 3, Điều 14 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 9/5/2003 của Chính phủ, trừ thời gian đóng BHTN theo quy định tại Nghị định số 127/2008/NĐ-CP. Trường hợp, tổng thời gian làm việc tính trợ cấp thôi việc có tháng lẻ (kể cả trường hợp NLĐ có thời gian làm việc từ đủ 12 tháng trở lên nhưng tổng thời gian tính trợ cấp thôi việc dưới 12 tháng) thì được làm tròn: Từ đủ 1 tháng đến dưới 6 tháng làm tròn thành 1/2 năm; Từ đủ 6 tháng đến dưới 12 tháng làm tròn thành 1 năm.

– Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là tiền lương, tiền công theo HĐLĐ, được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt HĐLĐ, gồm tiền công hoặc tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có).

2) MẤT VIỆC LÀM : sự việc xảy ra thường là do yếu tố khách quan:

“… Điều 17. (Luật lao động 2007)

1- Trong trường hợp do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ…

Tiền trợ cấp mất việc làm = Số năm được tính hưởng trợ cấp mất việc làm x Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp mất việc làm x 1

Trong đó:

– Số năm được tính hưởng trợ cấp mất việc làm (tính theo năm) được xác định là tổng thời gian NLĐ làm việc liên tục cho NSDLĐ đó, được tính từ khi bắt đầu làm việc đến khi NLĐ bị mất việc làm, trừ đi thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) theo quy định tại Điều 41 của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/ 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về BHTN.

Trường hợp tổng thời gian làm việc thực tế cho NSDLĐ có tháng lẻ (kể cả trường hợp NLĐ có thời gian làm việc cho NSDLĐ từ đủ 12 tháng trở lên nhưng tổng thời gian làm việc tính trợ cấp mất việc làm dưới 12 tháng) thì được làm tròn: Dưới 1 tháng không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm; Từ đủ 1 tháng đến dưới 6 tháng được làm tròn thành 6 tháng làm việc để hưởng trợ cấp mất việc làm bằng 1/2 tháng lương; Từ đủ 6 tháng trở lên được làm tròn thành 1 năm làm việc để hưởng trợ cấp mất việc làm bằng 1 tháng lương.

– Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động (HĐLĐ), được tính bình quân của 6 tháng liền kề của NLĐ trước khi bị mất việc làm, bao gồm tiền công hoặc tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có).
_________________________________________________________________

TÓM LẠI:

1. Nếu người LĐ nghỉ việc vì lí do chủ quan thì được hưởng trợ cấp thôi việc = 1/2 tháng lương.

2. Nếu người LĐ nghỉ việc vì lí do khách quan thì được hưởng cả trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm (1/2 + 1 tháng lương)

3. Nếu NSDLĐ đã đóng BHTN thì sẽ được miễn trách nhiệm 2 loại trợ cấp trên >>> Như vậy, nếu DN hoạt động sau 2009 và đã đóng BHTN thì hoàn toàn không phải chi trả khoản trợ cấp nào khác khi NLĐ nghỉ việc.