HỎI ĐÁP VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

Câu hỏi 1: Các quy định về bảo hiểm thất nghiệp có hiệu lực thi hành kể từ khi nào?Trả lời: Theo quy định tại Điều 140 của Luật Bảo hiểm xã hội thì bảo hiểm thất nghiệp có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2009.

Câu hỏi 2: Bảo hiểm thất nghiệp là bảo hiểm bắt buộc hay bảo hiểm tự nguyện?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 80 của Luật Bảo hiểm xã hội thì bảo hiểm thất nghiệp áp dụng bắt buộc đối người lao động quy định tại khoản 3 và người sử dụng lao động quy định tại khoản 4 Điều 2 của luật này. Như vậy, bảo hiểm thất nghiệp là bảo hiểm bắt buộc.

Câu hỏi 3: Những người lao động nào thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp?

Trả lời: Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ thì người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là công dân Việt Nam giao kết các loại hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc sau đây với người sử dụng lao động quy định tại Điều 3 nghị định này:

1. Hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng;
2. Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
3. Hợp đồng làm việc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng;
4. Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn, kể cả những người được tuyển dụng vào làm việc tại các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước trước ngày Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp nhà nước.

Các đối tượng giao kết các loại hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nêu trên sau đây gọi chung là người lao động.

Câu hỏi 4: Những doanh nghiệp, tổ chức nào thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp?

Trả lời:  Theo quy định tại Điều 3 của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ thì người sử dụng lao động có sử dụng từ mười (10) người lao động trở lên tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp sau đây:

1. Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân.
2. Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị, đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị – xã hội và tổ chức xã hội khác.
3. Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư.
4. Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã.
5. Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động.
6. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

Câu hỏi 5: Để được hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp người thất nghiệp phải có các điều kiện gì?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 15 của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ, điểm 3.1 khoản 3 Mục III của Thông tư số 04/2009/TT- BLĐTBXH ngày 22 tháng 01 năm 2009 và khoản 1 điều 1 của Thông tư số 34/2009/TT- BLĐTBXH ngày 16 tháng 10 năm 2009 thì người thất nghiệp được hưởng bảo hiểm thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau:

– Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ 12 tháng trở lên trong vòng 24 tháng trước khi bị mất việc làm, hoặc chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động, hoặc chấm dứt hợp đồng việc làm theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;
– Đã đăng ký với trung tâm giới thiệu việc làm thuộc sở lao động – thương binh và xã hội khi bị mất việc làm, chấm dứt hợp đồng lao động  hoặc hợp đồng việc làm;
– Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày (tính theo ngày làm việc) kể từ ngày đăng ký thất nghiệp với trung tâm giới thiệu việc làm theo quy định;

Câu hỏi 6: Việc đăng ký thất nghiệp được quy định như thế nào?

Trả lời: Theo quy định tại tiết 3.1 điểm 3 Mục III của Thông tư số 04/2009/TT-BLĐTBXH ngày 22 tháng 1 năm 2009 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã sửa đổi bổ sung thì trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng việc làm, người lao động phải trực tiếp đến trung tâm giới thiệu việc làm thuộc sở lao động – thương binh và xã hội nơi đang làm việc để đăng ký.

Người lao động đăng ký thất nghiệp theo mẫu số 1 ban hành kèm theo thông tư này với các nội dung chủ yếu là họ và tên; ngày, tháng, năm sinh; số CMND, cơ quan cấp, ngày cấp; số điện thoại liên lạc, số tài khoản cá nhân, mã số thuế, địa chỉ Email (nếu có); hiện cư trú tại; sổ bảo hiểm xã hội; tên doanh nghiệp, tổ chức chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc; chấm dứt hợp đồng lao động/hợp đồng làm việc với (DN,TC) nêu trên từ ngày; số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp và đăng ký thất nghiệp để được thực hiện các chế độ theo quy định.

Câu hỏi 7: Hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp bao gồm những gì?

Trả lời: Theo quy định tại tiết 3.2 Điều 3 mục III của Thông tư số 04/2009/TT-BLĐTBXH ngày 22 tháng 1 năm 2009 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thì hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp bao gồm:

1. Đơn đề nghị hưởng bảo hiểm thất nghiệp theo mẫu số 2 ban hành kèm theo thông tư này.
2. Bản sao hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc đã hết hạn hoặc thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc xác nhận của đơn vị cuối cùng trước khi thất nghiệp về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc đúng pháp luật về xuất trình sổ bảo hiểm xã hội.

L.Đ

————————————–

* PV: Hiện nay ở TPHCM có bao nhiêu NLĐ đã tham gia đóng BHTN. Dự kiến số lao động sẽ được thụ hưởng chính sách này là bao nhiêu?

* Ông ĐỖ QUANG KHÁNH: Hiện nay tại TPHCM có gần 1,3 triệu người tham gia BHTN. Dự kiến trong năm 2010 sẽ có 250.000-300.000 NLĐ được thụ hưởng chính sách này.

* Để chuẩn bị cho việc chi trả trợ cấp thất nghiệp, BHXHTP và ngành LĐTB-XH đã chuẩn bị phương án, cách thức chi trả như thế nào? Có bao nhiêu địa điểm hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơ và chi trả?

* Đây là một khối lượng công việc rất lớn, do vậy từ nhiều tháng nay BHXHTP và Sở LĐTB-XH đã gặp nhau nhiều lần để bàn phương án thực hiện. Một số nguyên tắc quan trọng được thống nhất như sau: cơ quan BHXH sẽ nỗ lực giải quyết nhanh việc chốt sổ BHXH để NLĐ (bị mất việc) sớm hoàn tất bộ hồ sơ xin trợ cấp; Sở LĐTB-XH (thông qua Trung tâm giới thiệu việc làm – GTVL) tổ chức các cơ sở tiếp nhận hồ sơ thật thuận lợi cho NLĐ, đồng thời tổ chức tốt công tác dạy nghề và giới thiệu việc làm miễn phí cho NLĐ. Được biết, Sở LĐTB-XH đã đề nghị Sở Nội vụ bổ sung thêm biên chế cho TTGTVL để trước mắt tổ chức thêm phòng BHTN và 6 cơ sở tiếp nhận hồ sơ BHTN trên địa bàn TP.

Về cách thức chi trả, chúng tôi thống nhất phương án trả trợ cấp qua thẻ ATM là cơ bản nhằm đảm bảo an toàn cả cho người trả và người nhận, đồng thời giải quyết được áp lực do số người nhận trợ cấp rất đông, lại tập trung vào cùng một thời điểm trong tháng. Mặt khác, việc thanh toán qua thẻ ATM ở TPHCM hiện nay đã trở nên rất thông dụng và thuận lợi.

Người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp từ 1 năm trở lên, sẽ được nhận trợ cấp. Ảnh: H.K.

* Làm thế nào để đơn giản hóa thủ tục và giúp NLĐ thụ hưởng chính sách BHTN nhanh nhất?

* Như trên đã nói, cơ quan BHXH sẽ nỗ lực giải quyết nhanh việc chốt sổ BHXH để NLĐ hoàn tất hồ sơ xin trợ cấp đúng thời hạn, đồng thời hỗ trợ tối đa cho Sở LĐTB-XH trong việc cung cấp thông tin về quá trình đóng BHTN để sở chủ động việc tính toán và ra quyết định hưởng trợ cấp. Ngoài ra, hai bên sẽ phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng để khi NLĐ có quyết định giải quyết trợ cấp thì cũng có thể đến cơ quan BHXH quận, huyện – nơi đăng ký nhận BHTN – để nhận thẻ ATM và thẻ BHYT nhanh chóng.

* Trong trường hợp người sử dụng lao động nợ BHXH lẫn BHTN thì làm sao chốt sổ BHXH và trong trường hợp này NLĐ có được nhận BHTN hay không?

* Dù sao thì yếu tố quan trọng nhất, đảm bảo cho NLĐ được nhận BHTN vẫn là đơn vị sử dụng lao động, nếu đơn vị không đóng BHTN kịp thời hoặc không tích cực phối hợp với cơ quan BHXH để cung cấp hồ sơ, thông tin về NLĐ thì không thể chốt sổ để giải quyết chế độ trợ cấp được.

Trước mắt chúng tôi dự kiến, đối với những đơn vị sử dụng lao động, vì lý do khách quan nợ BHXH, BHTN không quá 3 tháng, có văn bản cam kết trả nợ sớm thì vẫn chốt sổ cho NLĐ để họ kịp hoàn tất hồ sơ BHTN đúng thời hạn. Tuy nhiên đối với những đơn vị trốn nộp, nợ đọng kéo dài, kể cả trường hợp đã cam kết nhưng không thực hiện thì không thể thực hiện như vậy được. Từ nay cơ quan Thanh tra lao động phải vào cuộc quyết liệt hơn, vì chắc chắn áp lực của NLĐ đòi BHTN sẽ là rất lớn.

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đề nghị các đơn vị sử dụng lao động, ngay sau khi ra quyết định thôi việc, quyết định chấm dứt hợp đồng với NLĐ thì phải cung cấp thông tin và hồ sơ kịp thời cho cơ quan BHXH để việc chốt sổ cho NLĐ được thuận lợi, không bị chậm trễ.

* Mức chi trả BHTN được tính toán ra sao?

* Bên cạnh việc được đào tạo nghề và tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí, NLĐ được hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công của 6 tháng đóng BHTN sau cùng. Thời gian hưởng là: 3 tháng nếu đã đóng BHTN đủ từ 12 tháng đến dưới 36 tháng; 6 tháng nếu đã đóng từ 36 tháng đến dưới 72 tháng; 9 tháng nếu đã đóng từ 72 tháng đến dưới 144 tháng; 12 tháng nếu đã đóng đủ 144 tháng trở lên. Trong thời gian hưởng trợ cấp nói trên, NLĐ được cấp thẻ BHYT miễn phí để sử dụng.

KHÁNH HÀ – Báo sggp