Các văn bản pháp luật quan trọng trong việc giải quyết vụ án hình sự

1/ Bộ luật tố tụng hình sự 2003 – 2015

2/ Bộ luật hình sự 1999/SĐBS 2009 – 2015

3/ Nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTP

Hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của Bộ Luật Hình sự năm 1999
– Chuẩn bị phạm tội (Điều 17)
– Phạm tội chưa đạt (Điều 18)
– Tù có thời hạn (Điều 33)
– Quản chế (Điều 38)
– Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (Điều 46)
– Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (Điều 48)
– Tái phạm (khoản 1 Điều 49)
– Tái phạm nguy hiểm (khoản 2 Điều 49)
– Xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong một số trường hợp cụ thể thuộc các trường hợp quy định tại Mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội.
– Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự (Điều 47) Mục 10.
– Xoá án tích (Điều 64, Điều 65, Điều 66 và Điều 67)

4/ Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP

Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự
– Về tình tiết “gây cố tật nhẹ cho nạn nhân” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự.
– Về khái niệm “vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 133
– Việc xác định trị giá tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả để buộc người làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 180
– Về các tình tiết “gây thiệt hại nghiêm trọng“, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” quy định tại Điều 202 – Mục 4
– Về các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” và “gây cản trở giao thông nghiêm trọng” quy định tại Điều 245 – Mục 5
– Về các tình tiết “có giá trị lớn”, “có giá trị rất lớn hoặc đặc biệt lớn” quy định tại Điều 248 – Mục 6
– Về các tình tiết “với quy mô lớn”, “thu lợi bất chính lớn, rất lớn hoặc đặc biệt lớn” quy định tại Điều 249 – Mục 7
– Trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội là chủ hoặc người quản lý khách sạn, nhà trọ…. gọi gái mại dâm đến cho khách để họ mua bán dâm – Mục 1 chương II
– Trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện tội phạm về ma tuý trong một số trường hợp cụ thể – Mục 2 chương II
– Trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội đua xe trái phép gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác. Điểm a khoản 2 Điều 207 – Mục 3 chương II

Tính chất côn đồ: công văn số 38/NCPL ngày 6/01/1976 và tại Hội nghị tổng kết công tác ngành năm 1995, Toà án nhân dân tối cao đã giải thích về tình tiết “có tính chất côn đồ:  là hành động của những tên coi thường pháp luật, luôn luôn phá rối trật tự trị an, sẵn sàng dùng vũ lực và thích (hay) dùng vũ lực để uy hiếp người khác phải khuất phục mình, vô cớ hoặc chỉ vì một duyên cớ nhỏ nhặt là đâm chém, thậm chí giết người. Hành động của chúng thường là xâm phạm sức khoẻ, tính mạng, danh dự  người khác, gây gổ hành hung người khác một cách vô cớ hoặc vì một duyên cớ nhỏ nhặt

5/ Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC
Hướng dẫn áp dụng các quy định tại Chương XV “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình” của Bộ luật hình sự năm 1999
– Về tình tiết “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”
– Về tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ (Điều 146 BLHS)
– Về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 147 BLHS)
– Về tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn (Điều 148 BLHS)
– Về tội đăng ký kết hôn trái pháp luật (Điều 149 BLHS)
– Về tội loạn luân (Điều 150 BLHS)
– Về tội ngược đãi, hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình (Điều 151 BLHS)
– Về tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 152 BLHS)

6/ Thông tư liên tịch 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP
Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của Bộ luật hình sự năm 1999
– Khi áp dụng tình tiết “đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt” quy định tại khoản 1 của các điều 137, 138, 139 và 140 BLHS cần chú ý
– Bị coi là “đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản”
– Khi áp dụng các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” (từ Điều 133 đến Điều 140, Điều 142 và Điều 143 BLHS) cần chú ý
– Trong trường hợp tài sản bị chiếm đoạt dưới 500 nghìn đồng (Điều 137, Điều 138, Điều 139 BLHS) hoặc dưới một triệu đồng (Điều 140 BLHS), cũng như trong trường hợp tài sản bị huỷ hoại hoặc bị làm hư hỏng có giá trị dưới 500 nghìn đồng (Điều 143 BLHS) nếu gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì cũng chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 của điều luật tương ứng, nếu không có tình tiết định khung hình phạt khác.
– Về tình tiết “sử dụng thủ đoạn nguy hiểm khác” hoặc “dùng thủ đoạn nguy hiểm”
– Khi áp đụng tình tiết “hành hung để tẩu thoát” (điểm đ khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 2 Điều 137; điểm đ khoản 2 Điều 138 BLHS) cần chú ý
– Về việc xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt, bị chiếm giữ trái phép, bị sử dụng trái phép, bị huỷ hoại hoặc bị làm hư hỏng
– Nếu tất cả các hành vi phạm tội này đều được thực hiện từ ngày 1-7-2000 trở đi, thì người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng theo quy định của BLHS.
– Nếu trong các hành vi phạm tội này, có hành vi phạm tội được thực hiện trước ngày 1-7-2000, có hành vi phạm tội được thực hiện từ ngày 1-7-2000 trở đi, thì người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng theo quy định của BLHS. Tuy nhiên, khi xét xử các Toà án cần xem xét đến quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 (sau đây viết tắt là BLHS 1985) về tội phạm tương ứng để nếu theo quy định của Điều 7 BLHS mà BLHS 1985 có quy định khác có lợi hơn cho người phạm tội thì áp dụng tinh thần quy định đó khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội.
– Nếu tất cả các hành vi phạm tội này đều được thực hiện trước ngày 1-7-2000, thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự được thực hiện như sau

7/ Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP
Hướng dẫn áp dụng một số quy định của các Điều 139, 193, 194, 278, 279, và 289 Bộ luật hình sự 1999
– Khi áp dụng các điều 139, 193, 194, 278, 279 và 289 BLHS để quyết định hình phạt, về nguyên tắc chung Toà án phải căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự
– Khi áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cần chú ý
– Khi áp dụng khoản 4 Điều 193 Bộ luật Hình sự về tội sản xuất trái phép chất ma tuý và khoản 4 Điều 194 Bộ luật Hình sự về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý cần chú ý
– Khi áp dụng điểm a khoản 4 Điều 278 BLHS về tội tham ô tài sản cần chú ý
– Khi áp dụng điểm a khoản 4 Điều 279 BLHS về tội nhận hối lộ và điểm a khoản 4 Điều 289 BLHS về tội đưa hối lộ cần chú ý
– Cần chú ý là trường hợp được hướng dẫn tại Mục 2 Nghị quyết này là trường hợp không gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng; các trường hợp được hướng dẫn tại các mục 4 và 5 Nghị quyết này là các trường hợp không gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác. Trong trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng (đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản) hoặc trong trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác (đối với tội tham ô, tội nhận hối lộ, tội đưa hối lộ) thì phân biệt như sau

8/ Nghị quyết 03/2004/NQ-HĐTP
Hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
– Về người tiến hành tố tụng và việc thay đổi người tiến hành tố tụng
– Về việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo
– Về một số mẫu văn bản tố tụng

9/ Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐTP
Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba “Xét xử sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng hình sự
– Nhận hồ sơ vụ án và thụ lý hồ sơ vụ án
– Về Điều 176 của BLTTHS;
– Nhận hồ sơ vụ án và thụ lý hồ sơ vụ án
– Thời hạn chuẩn bị xét xử
– Về việc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử
– Về Điều 177 của BLTTHS. Áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam
– Thời hạn tạm giam
– Tạm giam trong trường hợp để hoàn thành việc xét xử
– Về Điều 179 của BLTTHS
– QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ” CỦA BLTTHS
– Về Điều 188 của BLTTHS; Về Điều 196 của BLTTHS
– Về Điều 199 của BLTTHS; Về Điều 200 của BLTTHS;
– VỀ CHƯƠNG XIX “THỦ TỤC BẮT ĐẦU PHIÊN TOÀ” CỦA BLTTHS
– Về Điều 201 của BLTTHS;
– VỀ CHƯƠNG XXII “NGHỊ ÁN VÀ TUYÊN ÁN” CỦA BLTTHS
– Về Điều 222 của BLTTHS; Điều 224; Điều 226; Điều 228, 229
– CÁC MẪU VĂN BẢN TỐ TỤNG

10/ Nghị quyết 01/2005/NQ-HĐTP
Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004
– THẨM QUYỀN CỦA TOÀ ÁN
– NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG VÀ VIỆC THAY ĐỔI NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG
– NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG
– ÁN PHÍ, LỆ PHÍ VÀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN, THỚI HIỆU YÊU CẦU
MẪU VĂN BẢN TỔ TỤNG;  MẪU BẢN ÁN SƠ THẨM

11/ Nghị quyết 02/2005/NQ-HĐTP:

11/ Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ tư Quyền kháng cáo trong “Xét xử phúc thẩm” của BLTTHS – các mẫu tố tụng

12/ Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự
–  Về tình tiết “người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 của BLHS_
–  Về tình tiết “phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 48 của BLHS
– Tình tiết “dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 của BLHS
– Tình tiết “phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 104 của BLHS
–  Tình tiết “đối với thầy giáo, cô giáo của mình” quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 104 của BLHS
– Về tình tiết “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 254 của BLHS
– Về tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 48 và một số điều luật trong Phần các tội phạm của BLHS
– Về tình tiết “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” quy định tại một số điều luật của BLHS
– Về tình tiết “đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm” quy định tại một số điều luật của BLHS
– Về tội “không chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính” quy định tại Điều 269 của BLHS
– Về việc xác định trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội đánh bạc quy định tại Điều 248 của BLHS
– Về việc xác định trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi mua bán trái phép chất ma tuý nhiều lần
– Về việc quyết định hình phạt tù đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội

13/ Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự

14/ Phạm tội có tổ chức – khoản 2 Điều 20- BLHS 1999/2009; Nghị Quyết-02-HĐTP-NQ/1988
– Là trường hợp nhiều người cố ý cùng bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau, vạch ra kế hoạch để thực hiện một tội phạm, dưới sự điều khiển thống nhất của người cầm đầu.

– Phạm tội có tổ chức, là một hình thức đồng phạm, có sự phân công, sắp đặt vai trò của những người tham gia. Trong đó mỗi người thực hiện một hoặc một số hành và phải chịu sự điều khiển của người cầm đầu.

* Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.

– Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Chỉ trong trường hợp phạm tội có tổ chức mới có người tổ chức. Người tổ chức có thể có những hành vi như: khởi xướng việc tội phạm; vạch kế hoạch thực hiện tội phạm cũng như kế hoạch che giấu tội phạm; rủ rê, lôi kéo người khác cùng thực hiện tội phạm; phân công trách nhiệm cho những người đồng phạm khác để thống nhất thực hiện tội phạm; điều khiển hành động của những người đồng phạm; đôn đốc, thúc đẩy người đồng phạm khác thực hiện tội phạm…

– Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm. Trực tiếp thực hiện tội phạm là trực tiếp có hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm như: trực tiếp cầm dao chém nạn nhân, cầm súng bắn nạn nhân, trực tiếp chiếm đoạt tài sản, trực tiếp nhận hối lộ v.v… Người thực hành là người có vai trò quyết định việc thực hiên tội phạm, vì họ là người trực tiếp thực hiên tội phạm. Dù là đồng phạm giản đơn hay phạm tội có tổ chức thì bao giờ cũng có người thực hành. Nếu không có người thực hành thì tội phạm chỉ dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, mục đích tội phạm không được thực hiện; hậu quả vật chất của tội phạm chưa xảy ra và trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm khác sẽ được xem xét theo quy định tại Điều 17 Bộ luật hình sự ( chỉ chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự ). Trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm khác rõ ràng phụ thuộc vào hành vi của của người thực hành.

15/ 01/2013/NQ-HĐTP: Hướng dẫn áp dụng điều 60 của Bộ luật Hình sự về án treo

Đủ các ĐK sau:

  • Bị xử phạt tù không quá 3 năm về 3 phân loại tội phạm
  • Có nhân thân tốt, tuân thủ pháp luật
  • Có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng;
  • Không có tình tiết tăng nặng, có từ hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên

16/ Nghị quyết 01/2016/NQ.HĐTP: hướng dẫn Điều 7 BLHS2015 Hiệu lực của Bộ luật hình sự về thời gian

– Hủy bỏ hoặc chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân đối với người đã bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án mà có đủ các Điều kiện quy định tại Điểm c Khoản 3 Điều 40 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13

– Về việc xử lý hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi: chỉ xử lý hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạm quy định tại Khoản 2 Điều 12 và Điểm b, Điểm c Khoản 2 Điều 14 BLHS2015

17/ Nghị định 185/2013/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại,
sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

– Khái niệm về hàng cấm, hàng nhập lậu, hàng giả: Đ3