1) Không đóng BHXH cho người lao động
Điều 7, Điều 8 Nghị định 86/2010/NĐ-CP (ngày 13/08/2010, về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH) quy định:
– Hành vi không đóng BHXH cho toàn bộ người lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp bị phạt tiền: a- Từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 01 người đến 10 người lao động. b- Từ 5.100.000 đồng đến 10.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 11 người đến 50 người lao động; c- Từ 10.100.000 đồng đến 18.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 51 người đến 100 người lao động; d- Từ 18.100.000 đồng đến 24.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 101 người đến 500 người lao động; đ- Từ 24.100.000 đồng đến 30.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 501 người lao động trở lên.
– Hành vi đóng BHXH không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp, bị phạt tiền từ 300.000 đồng đến 2.500.000 đồng khi vi phạm đối với mỗi người lao động.
Ngoài ra, người có hành vi nêu trên phải áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: a- Buộc truy nộp số tiền BHXH trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được giao quyết định xử phạt; b- Buộc đóng số tiền lãi của số tiền BHXH chưa đóng, chậm đóng theo mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH trong năm trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được giao quyết định xử phạt.
2) Điều 18. Trách nhiệm của người sử dụng lao động
1. Người sử dụng lao động có các trách nhiệm sau đây:
a) Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 92 và hằng tháng trích từ tiền lương, tiền công của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 91 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội;
Điều 134. Các hành vi vi phạm pháp luật về đóng bảo hiểm xã hội
Điều 138. Xử lý vi phạm
3) Doanh nghiệp nợ BHXH, người lao động làm sao?
Theo quy định tại điều 15 Luật BHXH, người lao động có quyền được cấp sổ BHXH; nhận sổ BHXH khi không còn làm việc, nhận lương hưu và trợ cấp BHXH đầy đủ, kịp thời; hưởng BHYT trong trường hợp đang hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Điều 16 Luật BHXH cũng quy định người lao động có trách nhiệm đóng BHXH theo quy định của Luật BHXH.
Khoản 1 điều 18 Luật BHXH quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm sau:
a) Đóng BHXH theo quy định tại điều 92 Luật BHXH và hằng tháng trích từ tiền lường, tiền công của người lao động theo quy định tại khoản 1 điều 91 Luật BHXH để đóng cùng lúc vào quỹ BHXH;
c) Trả sổ BHXH cho người lao động khi người đó không còn làm việc;
d) Lập hồ sơ để người lao động được cấp, đóng và hưởng BHXH;
đ) Trả trợ cấp BHXH cho người lao động.
Ngoài việc thực hiện quy định tại khoản 1 điều 18 Luật BHXH, hằng tháng người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại khoản 2 điều 102 Luật BHXH và trích từ tiền lường, tiền công của người lao động theo quy định tại khoản 1 điều 102 Luật BHXH để đóng cùng lúc vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp;
Theo quy định Điều 20 Luật BHXH, tổ chức BHXH có trách nhiệm thực hiện việc thu BHXH theo quy định của Luật BHXH; tiếp nhận hồ sơ, giải quyết chế độ BHXH; thực hiện việc trả lương hưu, trợ cấp BHXH đầy đủ, thuận tiện và đúng thời hạn; cung cấp đầy đủ và kịp thời thông tin về việc đóng, quyền được hưởng chế độ, thủ tục thực hiện BHXH khi người lao động yêu cầu.
Về điều kiện hưởng BHTN, điều 2 thông tư số 32/2010/TT-BLĐTBXH ngày 25-10-2010 của BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều của nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12-12-2008 của Chính phủ quy định, người thất nghiệp được hưởng BHTN khi có đủ các điều kiện như sau:
1. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 120 tháng trở lên trong vòng 240 tháng trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật.
2. Đã đăng ký thất nghiệp với Trung tâm giới thiệu việc làm thuộc sở LĐTBXH tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khi mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật.
3. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày tính theo ngày làm việc kể từ ngày đăng ký thất nghiệp với Trung tâm giới thiệu việc làm theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Thông tư số 32/2010/TT-BLĐTBXH (ngày thứ nhất trong mười lăm ngày nêu trên là ngày ngay sau ngày người lao động đăng ký thất nghiệp, tính theo ngày làm việc).
Căn cứ theo các quy định trên, trường hợp bạn hội đủ điều kiện theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 32/2010/TT-BLĐTBXH thì khi chấm dứt hợp đồng lao động, bạn được quyền hưởng bảo hiểm thất nghiệp.
Việc đến thời điểm hiện nay công ty chỉ mới đóng BHXH, bảo hiểm thất nghiệp đến tháng 10-2011 là sai với quy định của pháp luật về BHXH. Công ty còn nợ BHXH, bảo hiểm thất nghiệp thì tổ chức BHXH phải có trách nhiệm khởi kiện công ty tại tòa án có thẩm quyền để buộc công ty phải thực hiện nghĩa vụ đóng BHXH, bảo hiểm thất nghiệp theo đúng quy định của pháp luật BHXH.
Để bảo vệ quyền lợi, căn cứ Điều 130 Luật BHXH, bạn có quyền làm đơn khiếu nại giám đốc công ty yêu cầu giám đốc công ty phải có trách nhiệm đóng đầy đủ BHXH, bảo hiểm thất nghiệp cho bạn theo đúng quy định của pháp luật BHXH.
Trường hợp giám đốc công ty không giải quyết hoặc giải quyết không thỏa đáng, căn cứ Điều 151, 165, 165a, 166, 167 BLLĐ bạn có quyền làm đơn yêu cầu hội đồng hòa giải cơ sở (nếu công ty đã thành lập hội đồng hòa giải cơ sở) hoặc làm đơn yêu cầu cơ quan lao động cấp huyện nơi công ty có trụ sở chính cử hòa giải viên lao động để tiến hành hòa giải.
Trường hợp hòa giải không thành hoặc quá ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu hòa giải mà không tiến hành hòa giải, bạn có quyền khởi kiện công ty yêu cầu tòa án nhân dân cấp huyện nơi công ty có trụ sở chính giải quyết.
Ngoài ra bạn cũng có quyền khiếu nại tổ chức BHXH, yêu cầu giám đốc tổ chức BHXH giải quyết để bạn được hưởng chế độ BHXH, bảo hiểm thất nghiệp theo đúng quy định của pháp luật BHXH.
Trường hợp giám đốc tổ chức BHXH không giải quyết hoặc giải quyết không thỏa đáng, căn cứ Điều 131 Luật BHXH, bạn có quyền khởi kiện tổ chức BHXH tại TAND cấp huyện nơi tổ chức BHXH có trụ sở chính, hoặc khiếu nại đến cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh.
Trường hợp bạn không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh, hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết, thì bạn có quyền khởi kiện tổ chức BHXH tại TAND cấp huyện nơi tổ chức BHXH có trụ sở chính để yêu cầu giải quyết.
4) Doanh nghiệp nợ BHXH, người lao động làm sao?
