>>>DOWNLOAD LUẬT KÝ KẾT,GIA NHẬP VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
Luật quốc tế cũng có một hệ thống các văn bản pháp luật, cấu thành một nguồn quan trọng của Luật quốc tế. Luật quốc tế gồm các nguồn chủ yếu là Điều ước quốc tế và Tập quán quốc tế.
Điều ước quốc tế, với một định nghĩa tương đối thống nhất, được hiểu là “một hiệp định quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và bất kể tên gọi riêng của nó là gì”
Như vậy, một điều ước quốc tế có thể được đặt tên là Công ước, Hiệp ước, Hiệp định, Hiến chương, Quy chế, Tuyên bố… tùy theo sự thỏa thuận của các quốc gia tham gia vào Điều ước quốc tế mà không ảnh hưởng tới bản chất của văn bản được ký kết – sự ràng buộc tự nguyện đối với các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các quốc gia với nhau. Sự chấp nhận ràng buộc đó cũng có thể được thể hiện ở những hành động khác nhau như “ký kết, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập, hoặc bằng mọi cách khác được thỏa thuận như vậy”
Ngày nay, cùng với việc phát triển của sự tương tác giữa các quốc gia, điều ước quốc tế đã bao trùm lên mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế như an ninh quốc tế, hàng không vũ trụ, môi trường, khoa học công nghệ, thương mại quốc tế,… Các điều ước quốc tế điển hình là Hiến chương LHQ, Công ước Geneva về sự đối xử nhân đạo với tù binh, hàng binh chiến tranh, Công ước Viên về quan hệ lãnh sự, Công ước Luật Biển 1982…

>>>Trình tự tạo nên một điều ước quốc tế thông thường bao gồm:
– Đàm phán, soạn thảo và thông qua văn bản: thỏa thuận, thương lượng giữa các quốc gia về quyền, nghĩa vụ của các bên ghi nhận trong nội dung văn bản điều ước.
– Ký kết: là bước quan trọng nhất, thể hiện trực tiếp sự chấp nhận ràng buộc đối với điều ước quốc tế. Được thực hiện bởi đại diện quốc gia (nguyên thủ quốc gia, thủ tướng, bộ trường Bộ Ngoại giao, trường phái đoàn ngoại giao).Điều ước được ký kết sẽ phát sinh hiệu lực tùy theo quy định của từng quốc gia.
hoặc
Phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập: hành vi pháp lý xác nhận sự ràng buộc đối với một điều ước quốc tế nhất định mà không qua hành động ký kết được qui định trong điều ước đó.
>>>Điều ước quốc tế được ký kết dựa trên những nguyên tắc sau:
- Tự nguyện, bình đẳng trong quá trình ký kết điều ước quốc tế, theo đó, nếu một quốc gia ký kết điều ước quốc tế một cách miễn cưỡng hay bị lừa gạt thì điều ước đó không có hiệu lực áp dụng với quốc gia này.
- Điều ước quốc tế phải có nội dung phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế <điều đương nhiên, khỏi phải bàn nhiều>
- Nguyên tắc Pacta sunt servanda – Tận tâm, thiện chí thực hiện. Nguyên tắc này dựa trên nền tảng nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế: tận tâm thực hiện các cam kết quốc tế.
Như vậy, xét về bản chất và cũng theo nguyên tắc thứ nhất của việc ký kết điều ước quốc tế, các điều ước quốc tế chỉ có hiệu lực áp dụng với các quốc gia tự nguyện ký kết. Song trên thực tế, vẫn có những trường hợp một quốc gia thứ ba (hay quốc gia không tham gia ký kết điều ước quốc tế) hành động theo những nghĩa vụ mà điều ước này qui định. Điều này có thể lý giải rằng, những qui phạm của điều ước đó đã tự nó vượt ra khỏi sự giới hạn của điều ước được ký kết, trở thành một cách xử sự chung được nhiều hơn các quốc gia ký kết điều ước chấp nhận như là luật. Đối với các quốc gia thứ ba này, quy phạm mà họ tự nguyện thực hiện là luật, chứ không phải bản thân điều ước.
>>>Về vấn đề bảo lưu điều ước quốc tế
Điều ước quốc tế được ký kết dựa trên ý chí chủ quan của từng quốc gia, tự nguyện ký kết và tận tâm thực hiện. Trừ trường hợp một quốc gia cảm thấy điều ước quốc tế không đem lại lợi ích gì cho mình và quyết định dứt khoát là không tham gia, hay cảm thấy một điều ước khác đem lại những lợi ích hoàn toàn và tham gia ký kết đầy đủ, thì trường hợp một quốc gia không hoàn toàn chấp thuận tất cả các điều khoản của một điều ước không phải là hiếm. Từ đó, cơ chế bảo lưu điều khoản của điều ước quốc tế ra đời và được qui định cụ thể tại chương II, phần 2, Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế 1969.
Theo đó, “thuật ngữ “bảo lưu” được dùng để chỉ một tuyên bố đơn phương, bất kể cách viết hoặc tên gọi như thế nào, của một quốc gia khi đưa ra ký kết (…) điều ước đó, nhằm qua đó mà loại bỏ hoặc sửa đổi tác dụng pháp lý của một số quy định của điều ước trong việc áp dụng chúng đối với quốc gia đó”
